Các Câu Hỏi Thường Gặp Các Câu Hỏi Thường Gặp: 1. Sargent Ranch ở đâu Sargent Ranch tọa lạc khoảng bốn (4) dặm về phía nam của Thành phố Gilroy, Tiểu bang California, và phía tây của Xa lộ 101 trong Hạt Santa Clara. Sargent Ranch có khoảng 6.400 mẫu Anh, và đa số khu đất nằm trong Hạt Santa Clara. 2. Đơn về Mỏ Đá Sargent là cho vấn đề gì Mỏ Đá TP.HCM: Côn đồ xông vào nhà dân đâm người nguy kịch. Khi bước vào nhà, ông Phùng bất ngờ phát hiện chị Lợi đã tử vong trong phòng ngủ, bên cạnh thi thể có một chiếc búa. Còn chồng của chị Lợi là Huỳnh Hậu (SN 1985) đang trong tình trạng nguy kịch Tuy nhiên, ăn trứng vịt lộn thời điểm nào là tốt nhất? Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mỗi bữa sáng bạn cần phải nạp khoảng 20-30% lượng calo trong ngày. Trong đó, trứng vịt lộn là món ăn giàu dinh dưỡng rất thích hợp cho bữa ăn quan trọng này. Thông thường trong 1 quả Làm việc với công an, "Tiểu thư sang chảnh" Tina Dương cho rằng, mình không lừa đảo mà chỉ có mối quan hệ làm ăn với người gửi đơn tố cáo. Sáng 19/9, thông tin từ Công an TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cho biết, N.T.V.A (thường được gọi với tên "Tiểu thư sang chảnh 365 loại yêu cầu cao độ cách sống. Thể loại: Nguyên sang , Bách hợp , Hiện đại , HE , Tình cảm , Trinh thám , Niên hạ , Chủ thụ , Kim bài đề cử 🥇 , Tương ái tương sát , 1v1. Ở nhà chính ngủ đến ngọc thể ngang dọc, nàng nhận được bệnh viện tâm thần điện thoại. cash. HỏiChào bác sĩ. Hôm trước, em có thực hiện xét nghiệm máu và nhận được kết quả máu bị nhiễm khuẩn và bạch cầu với tiểu cầu cao. Vậy em có bị làm sao không ạ?Em xin cám ơn bác sĩ!Nguyễn Thị Hương 1990Trả lờiChào bạn!Có nhiều nguyên nhân bệnh lý gây kết quả xét nghiệm số lượng bạch cầu và tiểu cầu cao đồng thời, bác sĩ lâm sàng sẽ chẩn đoán bạn mắc bệnh gì dựa vào triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm chuyên sâuHội chứng tăng sinh tủy mạn tính lơ xê mi kinh dòng hạt, tăng tiểu cầu tiên phát...Tăng tiểu cầu thứ phát sau viêm hoặc nhiễm trùng cấp theo mô tả sơ bộ của bạn, bác sĩ chưa có đủ thông tin về mức độ tăng bạch cầu và tiểu cầu của bạn như thế nào, có triệu chứng lâm sàng gì kèm theo khi làm xét nghiệm máu hay không? Chính vì vậy bạn cần phải đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để tìm nguyên nhân của xét nghiệm tăng số lượng bạch cầu và tiểu ơn bạn đã đặt câu hỏi tới Hệ thống Y tế Vinmec. Trân sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Thùy Nhung - Phó Trưởng khoa Xét nghiệm - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Bệnh tiểu cầu cao có thể do nguyên nhân nguyên phát tại tủy hoặc thứ phát do tình trạng bệnh lý ngoài tủy gây ra. Hãy cùng Docosan tìm hiểu về vấn đề này nhé! Tiểu cầu hay thrombocytes là những mảnh vỡ hình không nhân từ tế bào chất của tế bào megakaryocyte xuất phát từ tủy xương. Tiểu cầu có đời sống trong khoảng 8-12 ngày, chu trình đổi mới là 4 ngày. Tiểu cầu đóng vai trò giúp máu ngừng chảy bằng cách kết tụ lại và tạo thành các nút chặn ở các vết thương mạch máu. Tiểu cầu bình thường có số lượng vào khoảng – Tiểu cầu ở trạng thái bình thường sẽ trôi tự do trong máu. Khi mạch máu bị tổn thương sẽ làm bộc lộ lớp collgaen ở dưới lớp biểu mô. Tiểu cầu sẽ kết tụ lại tại vị trí mạch máu bị tổn thương và kéo theo các tiểu cầu khác đến kết tụ cùng, cho đến khi hình thành nút chặn tiểu cầu bịt kín tổn thương tại mạch máu. Vậy tiểu cầu tăng cao là bệnh gì và xảy ra khi nào? Số lượng tiểu cầu cao được định nghĩa là số lượng tế bào tiể cầu vượt quá ngưỡng giới hạn trên bình thường, tức lớn hơn Tình trạng này còn được gọi là đa tiểu cầu. Cơ chế gây bệnh của tiểu cầu cao dựa trên 3 vấn đề chính sau Tắc vi mạch do số lượng tiểu cầu tăng cao làm tắc nghẽn dòng chảy của mạch máu ở những mao mạch nhỏ, ở phần xa đầu chi, có thể gây ra tình trạng ban đỏ, đau mắt, hoặc cơn thoáng thiếu máu não thoáng qua nếu gây tắc nghẽn ở mạch máu nãoHuyết khối ở mạch máu lớn có thể dẫn tới thuyên tắc hoặc huyết khối động, tính mạch, nguy hiểm có thuyên tắc máu nghiêm trọng khó cầm tiểu cầu tăng nhưng lại gây chảy máu là do thiếu yếu tố Von-Willerbrand . Nguyên nhân gây tăng tiểu cầu trong các trường hợp này thường do tế bào gốc trong tủy xương rối loạn tăng sinh tạo ra quá nhiều tiểu cầu. Số lượng tiểu cầu tăng cao được biết đến do 2 nhóm nguyên nhân chính là tăng tiểu cầu nguyên phát trong bệnh lý tủy xương và tăng tiểu cầu thứ phát do các bệnh lý khác gây ra. Trong trường hợp tiên phát tiên lượng bệnh nguy hiểm hơn do mức độ nguy hiểm của bệnh lý ở tủy, trong trường hợp này đa số là bệnh lý u. Còn tăng thứ phát có thể là một đáp ứng bình thường của cơ thể. Tăng tiểu cầu nguyên phát có thể do di truyền đột biến khiến tủy tăng sinh nhiều tiểu cầu, các tiểu cầu trong trường hợp này không bình thường và có thể tạo thành huyết khối. Trường hợp khác có thể gây chảy máu trong bệnh lý Von-Willerbrand, ảnh hưởng đến quá trình đông máu, nếu kéo dài và không được điều trị có thể gây xơ hóa tủy xương. Tăng tiểu cầu thứ phát xảy ra do ảnh hưởng của bệnh lý hoặc một tác nhân bên ngoài gây ra làm tăng số lượng tiểu cầu. Đa số là tiên lượng nhẹ, có thể tự giới hạn khi điều trị đúng bệnh gây ra. Thường gặp tăng thứ phát tiểu cầu trong các bệnh lý Thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu tán huyếtHậu phẫu cắt láchBệnh lý KViêm loét đại tràngLaoPhản ứng hay tác dụng phụ của thuốcLoãng xươngSau mất máu nghiêm trọngBệnh lý gan do nghiện rượu gây thiếu vitamin B12 hay nhóm folate Tiểu cầu cao có nguy hiểm không? Để trả lời cho câu hỏi bệnh tiểu cầu cao có nguy hiểm không, hãy cùng tìm hiểu các triệu chứng xảy ra khi cơ thể mắc phải tình trạng tiểu cầu tăng cao. Tăng tiểu cầu có thể gây ra huyết khối và xuất huyết. Đây là 2 triệu chứng thường gặp nhất trong bệnh lý tăng tiểu cầu. Huyết khối tăng tiểu cầu nguyên phát có thể hình thành cục máu đông ở não, tay và chân hoặc bất cứ vị trí nào của cơ thể. Cục máu đông nếu xuất hiện ở não có thể gây tai biến mạch máu não, dấu hiệu nhận biết là cơn đau đầu và chóng mặt khi có cơn thiếu máu não thoáng qua. Một số trường hợp đột quỵ có thể dẫn tới tử vong nếu không được can thiệp điều trị kịp thời. Huyết khối do tiểu cầu cao nếu xuất hiện ở thai nhi có thể gây chết bào thai, sẩy thai ở thai phụ mắc tiểu cầu tăng nguyên phát. Không phải trường hợp huyết khối nào cũng do tăng tiểu cầu mà bệnh lý này còn có thể được gây ra bởi nhiều yếu tố nguyên nhân khác. Tùy vào từng nguyên nhân sẽ có cách điều trị khác nhau. Xuất huyết có thể làm xuất hiện các triệu chứng như chảy máu cam, mảng bầm máu, mảng tụ máu, chảy máu chân răng, xuất huyết tiêu hóa tiêu phân đen hay nôn ra máu. Đa số các trường hợp xuất huyết thường do giảm tiểu cầu, vậy vì sao tiểu cầu cao vẫn gây xuất huyết? Có thể giải thích rằng, khi cục máu đông được hình thành do tăng tiểu cầu thì nó sử dụng hết lượng tiểu cầu hiện có, dẫn đến thiếu hụt tiểu cầu trong máu khiến các vết thươn trên thành mạch máu khó hồi phục và cầm máu. Điều trị tiểu cầu trong máu cao như thế nào? Thực hiện khám sức khỏe định kỳ thường xuyên, các kết công thức máu định kỳ là yếu tố quan trọng để bác sĩ kiểm tra và đánh giá tình trạng tiểu chế các yếu tố nguy cơ gây bệnh như hút thuốc lá đồng thời kiểm soát các yếu tố gây huyết khối khác như tăng huyết áp, tăng cholesterol, mỡ máu, đái tháo đường,…Nếu mắc bệnh, cần theo dõi các triệu chứng huyết khối và xuất huyết đồng thời báo ngay cho bác sĩ điều trị để tiến hành can dụng thuốc theo sự hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ không chỉ trong vấn đề điều trị tiểu cầu cao mà còn trong bất kỳ bệnh lý nào khác, trước khi sử dụng bất cứ thuốc nào bạn cần thông báo với bác sĩ về tình trạng bệnh và các loại thuốc đang điều trị. Vì khi đang điều trị thuốc giảm tiểu cầu nếu sử dụng các loại thuốc kháng viêm NSAIDs có thể gây xuất huyết. Cảm ơn bạn đã tìm đọc bài viết “3 câu hỏi về tình trạng tiểu cầu cao mà bạn cần lưu ý”. Hy vọng bài viết đã đem đến cho quý bạn đọc những thông tin thú vị về tình trạng tăng tiểu cầu. Bài viết được tham khảo từ bác sĩ và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch hẹn với bác sĩ có chuyên môn để điều trị. Để được tư vấn trực tiếp, bạn đọc vui lòng liên hệ hotline 1900 638 082 hoặc CHAT để được hướng dẫn đặt hẹn. Nguồn tham khảo NHS Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II, Bác sĩ cao cấp Đoàn Dư Đạt - Bác sĩ Nội tổng hợp - Khoa khám bệnh và Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long Trong cơ thể con người, tiểu cầu là một tế bào đóng vai trò quan trọng trong quá trình đông cầm máu, hình thành các cục máu đông để bảo vệ sự vẹn toàn của mạch máu. 1. Vài nét về tế bào tiểu cầu trong máu người Tiểu cầu tên tiếng Anh Platelets hay Thrombocytes là một loại tế bào trong máu người. Tiểu cầu là một tế bào không có nhân, thực chất chúng là một mảnh tế bào của mẫu tiểu cầu megakaryocyte, một loại tế bào bạch cầu sinh ra ở tủy cầu là tế bào nhỏ nhất trong tất cả các tế bào máu, khi xem trên kính hiển vi, tiểu cầu là những đốm màu tím sẫm có đường kính chỉ bằng 20% hồng cầu. Tiểu cầu có hình tròn hoặc hình bầu dục với hai mặt lồi giống như thấu kính với đường kính xấp xỉ khoảng 2μm dao động từ – μm đường kính lớn nhất có thể lên đến 3μm. Tế bào tiểu cầu Tiểu cầu trú ngụ trong các mạch máu và có nồng độ cao trong lách. Đời sống trung bình của một tiểu cầu kéo dài từ 7 - 10 ngày. Trong cơ thể, cơ quan chịu trách nhiệm tiêu hủy các tế bào tiểu cầu già cỗi là lá lách. Lách chính là nơi bắt giữ và tiêu hủy tiểu cầu cũng như các tế bào máu khác trong cơ thể. Những bất thường của lá lách như lách to có thể dẫn đến việc tăng quá trình bắt giữ và tiêu hủy tiểu cầu, làm giảm số lượng tiểu cầu trong máu ngoại đó, trong nhiều trường hợp bệnh nhân có kết quả xét nghiệm công thức máu cho thấy giảm tiểu cầu nghiêm trọng, bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ lách nhằm giảm quá trình tiêu hủy tiểu cầu. Xét nghiệm công thức máu để biết số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu Chỉ số PLT Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích thường số lượng tiểu cầu trong máu thường vào khoảng đến tiểu cầu/μl máu 1 μl = 1 mm3, trung bình là tiểu cầu/μl máu. Mỗi 1 lít máu sẽ có khoảng 150 – 400 tỷ tế bào tiểu giá trị về số lượng tiểu cầu bình thường trong xét nghiệm công thức máu của mỗi người sẽ khác nhau và sẽ có sự thay đổi tùy theo trạng thái tâm lý của người bệnh, giới tính, độ tuổi, chủng tộc và đặc biệt là thiết bị làm xét nghiệm... Do đó, để xác định cơ thể luôn khỏe mạnh thì chúng ta nên thường xuyên đi kiểm tra các xét nghiệm công thức máu và khám sức khỏe tổng quát, nhằm ngăn ngừa các dấu hiệu bệnh có thể xảy ra, từ đó có biện pháp điều trị kịp lượng tiểu cầu quá thấp có thể gây ra chảy máu. Còn số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu có thể gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu,...Một số nguyên nhân có thể dẫn tới tình trạng tăng/ giảm tiểu cầu trong cơ thểTăng rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, các bệnh ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh... Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Ý nghĩa của xét nghiệm máu và nước tiểu trong gói khám sức khỏe tổng quát Các chỉ số xét nghiệm máu thế nào là bất thường? Chỉ số MCV và MCH như thế nào là bất thường? Bài viết được viết bởi bác sĩ Huyết học - Truyền máu - Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long. Tiểu cầu Platelets hay Thrombocytes là một trong ba loại tế bào máu. Tiểu cầu là một mảnh tế bào không có nhân, sinh ra từ mẫu tiểu cầu trưởng thành trong tủy xương và được mô tả đầu tiên vào những năm 1800 bởi Bizzozero. Hình 1. Sơ đồ sinh các loại tế bào máu Tiểu cầu có hình dạng giống hình đĩa, đường kính khoảng 2 - 3 μm, dày khoảng 0,5 μm. Màng của tiểu cầu là màng Phospholipid kép có chứa rất nhiều thụ thể bề mặt. Bên trong bào tương có các hạt chứa chất liên quan đến quá trình ngưng tập tiểu cầu và đông cầm máu hình 2. Tiểu cầu chỉ có ở động vật có vú, trong khi các loài động vật khác tiểu cầu tuần hoàn như các tế bào đơn nhân. Hình 2. Sơ đồ cấu tạo tiểu cầu Chú thích áo ngoài. CM màng tế bào. SMF sợi khung xương dưới màng tế bào. vòng vi ống quanh tiểu cầu. và OCS chỗ lõm của màng bào tương từ thành của các kênh thông ra bề mặt tiểu cầu và hệ thống mở. M ti thể. hệ thống ống đặc chứa canxi. Gly hạt glycogen. thể đặc. G hạt sống của tiểu cầu từ 7-10 ngày. Trong cơ thể, cơ quan đảm nhiệm vai trò tiêu hủy các tiểu cầu già là lách. Lách là nơi bắt giữ và tiêu hủy tiểu cầu cũng như các tế bào máu khác trong cơ thể. Những phát triển bất thường của lá lách như lách to có thể làm tăng quá trình giữ và tiêu hủy tiểu cầu, gây giảm số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi. Do vậy trong nhiều trường hợp giảm tiểu cầu nghiêm trọng, bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật cắt lách nhằm giảm quá trình tiêu hủy tiểu cầu. 2. Tiểu cầu có chức năng gì? Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình bao gồm đông cầm máu, tạo cục máu đông, co cục máu đông, co mạch và sửa chữa, miễn dịch, viêm, xơ vữa động năng chính của tiểu cầu là cầm máu, tức là quá trình dừng chảy máu tại nơi nội mạc mạch máu thành trong của mạch máu hay mạch bạch huyết bị thương. Khi đó tiểu cầu tập trung tại vết thương sẽ bịt lỗ này lại trừ khi lỗ hổng quá lớn. Lúc này các tiểu cầu phải trải qua giai đoạn hoạt hóa để phóng thích chất trong các hạt chức năng và biến đổi hình dạng để kết dính lại với nhau tạo nút tiểu cầu và cục máu đông. Nếu thương tổn ở mạch máu là nhỏ thì bản thân nút chặn có thể làm ngừng chảy máu. Nhưng nếu thương tổn lớn hơn thì phải nhờ thêm sự hình thành cục máu trình có 3 giai đoạnKết dính tiểu cầu Khi thành mạch bị tổn thương, lớp collagen nằm bên dưới tế bào nội mạc mạch máu được bộc lộ. Tiểu cầu sẽ đến dính vào lớp collagen cầu giải phóng các yếu tố hoạt động Sau khi tiểu cầu kết dính với collagen, nó được hoạt hoá. Tế bào này phình to ra, thò các chân giả và giải phóng nhiều chất. Trong đó có một lượng lớn ADP, Thromboxane tập tiểu cầu ADP và thromboxane A2 hoạt hoá các Tiểu cầu ở gần. Hoạt hóa làm chúng có khả năng dính vào lớp Tiểu cầu ban đầu gọi là ngưng tập tiểu cầu. Rồi lớp tiểu cầu đến sau này lại giải phóng các chất hoạt động làm hoạt hoá và dính thêm lớp Tiểu cầu khác. Cứ như vậy, các lớp tế bào Tiểu cầu đến dính vào chỗ tổn thương càng lúc càng nhiều tạo nên nút Tiểu cầu. Hình 3. Sơ đồ tạo nút tiểu cầu Sự hình thành các “nút tiểu cầu" này sự cầm máu sơ cấp thường kết hợp với sự cầm máu thứ cấp bằng sợi huyết fibrin tổng ra, Tiểu cầu còn giúp cho thành mạch trở nên dẻo dai, mềm mại. Tác dụng này nhờ chức năng làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc của các tế bào này. 3. Tăng hay giảm tiểu cầu có tác hại gì? Số lượng tiểu cầu thông thường là 150 - 450 G/L máu toàn phần. Số lượng tiểu cầu lớn hơn khoảng này gọi là tăng tiểu cầu thrombocytosis; ít hơn 150 G/L được gọi là giảm tiểu cầu thrombocytopenia. Số lượng tiểu cầu bình thường của mỗi người sẽ khác nhau và sẽ có sự thay đổi tùy theo trạng thái tâm lý của từng người, giới tính, độ tuổi, chủng tộc và đặc biệt là thiết bị làm xét lượng tiểu cầu quá thấp giảm tiểu cầu nặng có thể gây ra chảy máu. Còn số lượng tiểu cầu quá cao tăng tiểu cầu sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu có thể gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...Tăng tiểu cầu gặp trong Rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, các bệnh viêm...Giảm tiểu cầu gặp trong Ức chế hoặc thay thế tủy xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh ... 4. Các rối loạn về tiểu cầu hay gặp Tăng tiểu cầu tiên phátTăng tiểu cầu tiên phát là rối loạn tăng sinh tủy mạn tính, đặc điểm là số lượng tiểu cầu tăng cao, tăng sinh mẫu tiểu cầu, và xu hướng xuất huyết hoặc huyết khối, với các dấu hiệu như Yếu, đau đầu, dị cảm đầu chi, chảy máu, lách to, và hồng ban với thiếu máu cục bộ. Chẩn đoán dựa trên số lượng tiểu cầu > 450 G/L kéo dài, không có xơ tủy hoặc nhiễm sắc thể Philadelphia hoặc BCR-ABL, hoặc bất kỳ rối loạn nào khác mà gây tăng tiểu tiểu cầu thứ phátTăng Tiểu cầu thứ phát phổ biến hơn, không phải do tủy xương, mà là một bệnh hoặc tình trạng khác kích thích tủy xương tạo ra nhiều Tiểu cầu hơn. Nguyên nhân có thể do nhiễm trùng, viêm, một số loại ung thư và phản ứng với thuốc... Các triệu chứng thường không nghiêm trọng. Số lượng Tiểu cầu trở lại bình thường khi tình trạng khác trở nên tốt loạn chức năng tiểu cầuRối loạn chức năng tiểu cầu là tình trạng tiểu cầu không hoạt động như bình thường, gây nên chảy máu hoặc bầm tím trên da, trong khi số lượng bình thường. Tiểu cầu có nhiều vai trò trong đông máu, rối loạn chức năng tiểu cầu có thể dẫn tới rối loạn đông máu ở những mức độ khác loạn chức năng có thể là do di truyền hoặc mắc phải. Các rối loạn chức năng tiểu cầu di truyền bao gồm bệnh von Willebrand là bệnh xuất huyết di truyền phổ biến nhất và rối loạn nội tại tiểu cầu di truyền ít phổ biến hơn. Các rối loạn chức năng tiểu cầu mắc phải thường do các bệnh ví dụ như suy thận cũng như sử dụng aspirin và các thuốc khác...Giảm tiểu cầu Nguyên nhân giảm tiểu cầu có thể doSản xuất tiểu cầu giảm,Tăng giữ tiểu cầu trong lách, với đời sống tiểu cầu bình thường,Tăng phá hủy hoặc tiêu thụ tiểu cầu nguyên nhân miễn dịch hoặc không miễn dịch, pha loãng tiểu tiểu cầu trong thai kỳGiảm tiểu cầu do thuốc do phá hủy tiểu cầu qua trung gian miễn dịch thông thường, heparin, trimethoprim/sulfamethoxazole, hiếm khi hơn là quinineGiảm tiểu cầu do thuốc gây ra do thuốc ức chế tủy xương phụ thuộc liều lượng ví dụ hóa trị liệuGiảm tiểu cầu kèm theo nhiễm trùng,Giảm tiểu cầu miễn dịch ITP, trước đây được gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch... 5. Giảm tiểu cầu có nguy hiểm không? Chức năng cơ bản của tiểu cầu là tham gia quá trình cầm máu, đông máu nhằm bảo vệ cơ thể khỏi sự mất máu. Bởi vậy, giảm tiểu cầu nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Khi số lượng tiểu cầu quá thấp, cơ thể người bệnh sẽ có thể bị xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi va chạm rất nhẹ. Các trường hợp xuất huyết nặng bao gồm Xuất huyết tiêu hóa nôn ra máu, xuất huyết đường tiết niệu đái máu, xuất huyết não màng não tai biến...Các dấu hiệu của giảm tiểu cầuKhi tiểu cầu giảm, dấu hiệu chính là xuất huyết. Tùy mức độ tiểu cầu giảm mà biểu hiện của xuất huyết khác nhauXuất huyết dưới da Biểu hiện là các chấm, nốt nhỏ bầm tím hoặc các mảng bầm tím...Xuất huyết niêm mạc mắt, mũi, chảy máu răng miệng;Xuất huyết nội tạng Biểu hiện là bệnh nhân tiểu ra máu, đi ngoài ra máu, nôn ra máu....Ở phụ nữ có thể kinh nguyệt nhiều, kéo dài, băng chứng nặng nhất của xuất huyết là xuất huyết não bệnh nhân đau đầu, buồn nôn hoặc có các triệu chứng thần kinh khu trú. 5. Khi nào thì cần xét nghiệm Tiểu cầu Tiểu cầu là những tế bào nhỏ nhưng quan trọng trong máu giúp cơ thể kiểm soát chảy máu. Nếu có các triệu chứng như dễ bị bầm tím trên cơ thể, vết thương chảy máu không cầm được hoặc chảy máu mũi, máu lợi thường xuyên, rong kinh ... cần đến khám bác sĩ sớm để được tư vấn và xét nghiệm. Xét nghiệm máu thường quy là xét nghiệm đơn giản và phổ biến giúp kiểm tra số lượng tiểu cầu có bình thường có nhu cầu tư vấn và thăm khám tại các Bệnh viện Vinmec thuộc hệ thống Y tế trên toàn quốc, Quý khách vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Tài liệu tham khảo2/ Nguyễn Công Khanh 2004. Huyết học Lâm sàng Nhi khoa. Nhà xuấy bản Y Đỗ Trung Phấn 2003. Bệnh lý tế bào nguồn tạo máu. Nhà xuấy bản Y Bộ môn Huyết học-Truyền máu, đại học Y Hà nội 2014. Bài giảng Huyết học-Truyền máu Sau đại học. Nhà xuất bản Y XEM THÊM Bị sốt xuất huyết, tiểu cầu giảm 17000 có cần truyền tiểu cầu không? Trường hợp nào mới nên truyền? Cây sơn thù du có tác dụng gì? Tiểu cầu sụt xuống 36 có liên quan hay bị ung thư máu không? Tiểu cầu là những mảnh tế bào trong hệ tuần hoàn có chức năng trong hệ đông máu. Thrombopoietin giúp kiểm soát số lượng tiểu cầu lưu hành bằng cách kích thích tủy xương để sản sinh mẫu tiểu cầu, tạo ra các mảnh tiểu cầu từ bào tương của chúng. Thrombopoietin được sản sinh trong gan với tốc độ không đổi và nồng độ lưu thông của chất này được xác định bởi mức độ gắn kết với các tiểu cầu đang lưu thông và có thể với các tế bào nhân khổng lồ của tủy xương và mức độ đào thải các tiểu cầu trong tuần hoàn. Các tiểu cầu tuần hoàn trong 7 đến 10 ngày. Khoảng một phần ba tiểu cầu được trữ tạm thời trong lách. Số lượng tiểu cầu bình thường là 140 to 440 × 109/L. Tuy nhiên, số lượng có thể thay đổi nhẹ theo giai đoạn chu kỳ kinh nguyệt, giảm trong thai kỳ giảm tiểu cầu lúc mang thai, và tăng trong đáp ứng với các cytokine viêm tăng tiểu cầu thứ phát, hoặc phản ứng. Các tiểu cầu cuối cùng bị phá hủy do cái chết theo chương trình, một quá trình độc lập với loạn tiểu cầu bao gồm Giảm tiểu cầu thrombocytopeniaRối loạn chức năng tiểu cầuBất kỳ tình trạng nào trong số này, ngay cả những trường hợp tiểu cầu tăng lên rõ rệt, đều có thể gây ra sự hình thành khuyết tật của nút cầm máu và chảy cơ chảy máu tỉ lệ nghịch với số lượng tiểu cầu và chức năng tiểu cầu xem bảng Số lượng tiểu cầu và nguy cơ chảy máu Số lượng tiểu cầu và nguy cơ chảy máu . Khi giảm chức năng tiểu cầu ví dụ, do nhiễm độc niệu hoặc sử dụng thuốc chống viêm không steroid [NSAID] hoặc aspirin, nguy cơ chảy máu tăng lên. Tăng tiểu cầu phản ứng Tăng tiểu cầu do phản ứng tăng tiểu cầu thứ phát Tăng tiểu cầu phản ứng là số lượng tiểu cầu tăng > [> × 109/L] thứ phát sau những rối loạn khác. Xem thêm Tổng quan về Rối loạn tăng sinh tủy. Một số... đọc thêm là sự sản sinh tiểu cầu quá mức do phản ứng với một rối loạn khác. Có rất nhiều nguyên nhân, bao gồm nhiễm trùng cấp tính, các chứng viêm mạn tính như viêm khớp dạng thấp Viêm khớp dạng thấp RA Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn hệ thống mạn tính, chủ yếu gây tổn thương các khớp. Viêm khớp dạng thấp gây tổn thương do các cytokine, chemokine và các metalloprotease. Biểu hiện bệnh... đọc thêm , viêm ruột Tổng quan về bệnh viêm ruột Bệnh viêm ruột IBD, bao gồm Bệnh Crohn và viêm đại tràng thể loét, là một tình trạng tái phát và thuyên giảm, đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính tại các vị trí khác nhau trong đường tiêu... đọc thêm , lao Bệnh lao TB Bệnh lao TB là bệnh nhiễm trùng do mycobacterial tiến triển mạn tính, thường có thời gian tiềm tàng sau khi có nhiễm bệnh ban đầu. Lao thường ảnh hưởng nhiều nhất đến phổi. Triệu chứng bao... đọc thêm , sarcoidosis Sarcoidosis Bệnh sarcoid là một bệnh lý viêm biểu hiện bằng tổn thương u hạt không hoại tử ở một hoặc nhiều cơ quan và mô; căn nguyên không rõ ràng. Phổi và hệ thống bạch huyết là cơ quan bị ảnh hưởng nhiều... đọc thêm , thiếu sắt Sự thiếu hụt sắt Sắt Fe là một thành phần của hemoglobin, myoglobin, và nhiều enzym trong cơ thể. Sắt heme được chứa chủ yếu trong các sản phẩm động vật. Nó được hấp thụ tốt hơn nhiều so với sắt nonheme ví... đọc thêm và một số loại ung thư nhất định. Tăng tiểu cầu phản ứng thường không liên quan đến tăng nguy cơ huyết khối hoặc chảy máu. Giảm tổng hợp ở ganTăng sự bắt giữ tại lách của tiểu cầu với sự sống còn của tiểu cầuTăng tiêu hủy hoặc tiêu thụ tiểu cầu cả nguyên nhân miễn dịch và không miễn dịchPha loãng tiểu cầu Nhìn chung nguyên nhân cụ thể nhất giảm tiểu cầu bao gồm Thuốc gây phá hủy tiểu cầu qua trung gian miễn dịch thông thường, heparin, trimethoprim/sulfamethoxazole, hiếm khi quinine [ban xuất huyết cocktail] hoặc abciximab và hiếm khi là tiêm chủng ví dụ cúm, zona, sởi, quai bị và rubella, A COVID-19Thuốc gây ức chế tủy xương phụ thuộc vào liều lượng ví dụ thuốc hóa trị liệu, etanolNhiễm trùng hệ thống Các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn tiểu cầu Các rối loạn tiểu cầu dẫn đến một kiểu chảy máu điển hình Nhiểu chấm xuất huyết trên da chủ yếu ở cẳng chân.Nốt xuất huyết nhỏ phân tán ở những vị trí tổn thương nhò hoặc vị trí chích tĩnh mạchXuất huyết niêm mạc mũi họng, mũi, tiêu hóa, đường tiết niệu sinh dụcChảy máu ồ ạt sau phẫu thuậtKinh nguyệt ra nhiều Biểu hiện lâm sàng của xuất huyết chấm ở dưới da và niêm phân tích tế bào máu ngoại vi với tiểu cầu, các xét nghiệm đông máu, tiêu bản máu ngoại viĐôi khi cần chọc hút dịch tủy xươngĐôi khi kháng nguyên von Willebrand, hoạt động gắn kết tiểu cầu và các nghiên cứu đa phân tửCác rối loạn tiểu cầu được nghi ngờ ở những bệnh nhân bị xuất huyết dạng chấm ở da và niêm mạc. Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi có số lượng tiểu cầu, các xét nghiệm đông máu và tiêu bản máu ngoại vi được thực hiện. Quá nhiều tiểu cầu và giảm tiểu cầu được chẩn đoán dựa trên số lượng tiểu cầu. Các nghiên cứu về đông máu là bình thường trừ khi có rối loạn đông máu đồng thời. Ở những bệnh nhân có CBC, số lượng tiểu cầu, tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế INR và thời gian thromboplastin một phần PTT bình thường, nghi ngờ có rối loạn chức năng tiểu cầu hoặc thành mạch. Tỷ lệ tiểu cầu chưa trưởng thành trong máu ngoại vi đôi khi là một biện pháp hữu ích ở bệnh nhân giảm tiểu cầu, vì nó tăng lên khi tủy xương sản sinh ra tiểu cầu và không tăng trong tủy xương giảm sản xuất tương tự như hồng cầu lưới trong thiếu máu. Ở những bệnh nhân rối loạn chức năng tiểu cầu, nghi ngờ nguyên nhân do thuốc nếu các triêu chứng xuất hiện sau khi bệnh nhân sử dụng thuốc ví dụ ticarcillin, prasugrel, clopidogrel, ticagrelor, abciximab. Sự rối loạn chức năng tiểu cầu do thuốc có thể rất nghiêm trọng, nhưng hiếm khi cần các xét nghiệm chuyên biệt. Nghi ngờ nguyên nhân di truyền nếu có tiền sử dễ bầm tím, chảy máu sau khi nhổ răng, phẫu thuật, sinh đẻ hoặc cắt bao quy đầu; hay kinh nguyệt ra máu nhiều. Trong trường hợp nghi ngờ do di truyền, cần xét nghiệm hoạt tính kháng nguyên và yếu tố von Willebrand VWF. Ở một số bệnh nhân, xét nghiệm ngưng tập tiểu cầu có thể xác định khiếm khuyết của tiểu cầu trong phản ứng với các chất chủ vận tiểu cầu adenosine diphosphate [ADP], collagen, thrombin và do đó phát hiện được loại khiếm khuyết của tiểu loạn chức năng tiểu cầu do những rối loạn hệ thống thường nhẹ và có ít có ý nghĩa lâm sàng. Ở những bệnh nhân này, chủ yếu cần quan tâm đến các rối loạn hệ thống, không cần thiết làm các xét nghiệm huyết học. 1. Al-Samkari H, Rosovsky RP, Karp Leaf RS A modern reassessment of glycoprotein-specific direct platelet autoantibody testing in immune thrombocytopenia. Blood Adv 419–18, 2020. doi Ngừng thuốc giảm gây chức năng tiểu cầuHiếm khi phải truyền khối tiểu cầuHiếm khi thuốc chống tiêu sợi huyếtỞ những bệnh nhân giảm tiểu cầu hoặc rối loạn chức năng tiểu cầu, không sử dụng những thuốc làm giảm chức năng tiểu cầu, đặc biệt là aspirin và thuốc chống viêm không chứa steroid NSAID khác. Những bệnh nhân đang dùng thuốc như vậy nên xem xét các loại thuốc thay thế, chẳng hạn như acetaminophen, hoặc đơn giản là ngừng sử dụng rối loạn chức năng tiểu cầu hoặc giảm tiểu cầu do giảm sản xuất, truyền máu, thuốc chủ vận thụ thể thrombopoietin TPO ví dụ romiplostim, eltrombopag, avatrombopag, hoặc thuốc chống tiêu sợi huyết ví dụ axit aminocaproic, axit tranexamic được dành cho bệnh nhân. Chảy máu hoạt độngGiảm tiểu cầu trầm trọng ví dụ, số lượng tiểu cầu < [< 10 × 109/LCần phẫu thuật xâm lấnTrong trường hợp giảm tiểu cầu do phá hủy tiểu cầu, việc truyền máu được dành trong trường hợp có đe dọa tính mạng, hệ thần kinh trung ương hoặc chảy máu mắt.

tiểu cầu cao bất thường